Monday, 06/12/2021 - 10:43|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường THCS Thôm Mòn

Bài tuyên truyền: LỢI ÍCH VÊ TƯ VẤN VÀ KHÁM SỨC KHỎE TIỀN HÔN NHÂN

Bài tuyên truyền:

LỢI ÍCH VÊ TƯ VẤN VÀ KHÁM SỨC KHỎE TIỀN HÔN NHÂN

 

 

  1. Tiền hôn nhân là gì?

Khái niệm: "Tiền hôn nhân" là thời gian từ lúc một người bắt đầu trưởng thành đến khi lập gia đình. Nói như vậy, không chỉ người lớn mới bước vào thời kỳ tiền hôn nhân mà có thể cả lứa tuổi vị thành niên, những người chưa trưởng thành về mặt tâm lý, xã hội nhưng đã phát triển về bộ máy sinh sản, cũng được xem như đã bước vào thời kỳ tiền hôn nhân. Một cách cụ thể hơn, từ trẻ ở tuổi vị thành niên (khi có khả năng sinh sản) cho đến người lớn ở độ tuổi 30 - 40 - 50 v.v… (chưa kết hôn). Đó là đối tượng cần quan tâm đến những vấn đề thuộc nội dung tư vấn, khám và chăm sóc sức khỏe sinh sản tiền hôn nhân.

 

2. Vì sao cần quan tâm đến tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân?

- Bắt đầu một cuộc sống tình dục vốn chưa có kinh nghiệm trước đó.
- Phải chuẩn bị để mang thai, sinh đẻ ra những đứa con khỏe mạnh.

- Có thể có những rắc rối trong đời sống tình dục, những bệnh tật mới xuất hiện liên quan đến đường sinh sản hoặc xuất hiện những hậu quả của các bệnh tật có từ trước ảnh hưởng đến sự sinh sản, thai nghén.

- Phải chủ động kiểm soát sự mang thai, thời điểm có con và số con mong muốn.

3. Mục đích của việc tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân?

- Chuẩn bị kiến thức, tâm lý đúng cho cuộc sống tình dục vợ chồng.

- Phát hiện và điều trị sớm (nếu có) một số bệnh tật có thể ảnh hưởng đến vấn đề tình dục, mang thai, sinh đẻ về sau.

- Chuẩn bị để có một cuộc sống tình dục thoải mái, thỏa mãn và an toàn nhất.

- Thực hiện sinh đẻ có kế hoạch một cách hiệu quả nhất.

- Phòng ngừa các bệnh lý, dị tật bẩm sinh cho đứa con trong tương lai, chuẩn bị cho người phụ nữ có điều kiện sức khỏe để mang thai và sinh đẻ an toàn về sau.

 

4. Lợi ích của tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân.

Việc kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân không chỉ giúp các bạn trẻ hiểu rõ tình trạng của nhau để “cân nhắc” việc ăn đời ở kiếp mà còn giúp hiểu biết để chăm sóc nhau tốt hơn trong cuộc sống sau này, giúp nhau phòng tránh, chữa trị kịp thời với những căn bệnh lây qua đường tình dục…

* Lợi ích của việc tư vấn, kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân:
+ Đánh giá sức khỏe một cách tổng quát.
+ Phát hiện những bệnh lý truyền nhiễm ví dụ như viêm gan B hay HIV, những bệnh lây truyền qua đường tình dục như lậu, giang mai …
+ Kiểm tra và phát hiện những bệnh lý do di truyền.
+ Tầm soát và phát hiện bệnh lý liên quan đến vấn đề sinh sản.
+ Dự phòng các bệnh lý, dị tật bẩm sinh cho đứa con tương lai, chuẩn bị cho người phụ nữ có điều kiện sức khỏe để mang thai và sinh đẻ an toàn.
+ Tránh tình trạng mang thai ngoài ý muốn, nạo phá thai không an toàn và thực hiện sinh đẻ có kế hoạch một cách hiệu quả nhất.

 

5. Khám sức khỏe tiền hôn nhân bao gồm các nội dung

Khám sức khỏe tiền hôn nhân bao gồm 2 nội dung sau:

+ Khám sức khỏe tổng thể: Giúp bạn phát hiện bệnh có nguy cơ ảnh hưởng tới sức khỏe của mình và người bạn đời để có kế hoạch điều trị sớm như: viêm gan B, HIV, các bệnh di truyền, bệnh tim, các tiền căn về rối loạn tâm thần, tình trạng huyết thống, bệnh sử gia đình…, nếu biết trước, đôi bạn trẻ có quyền cân nhắc, lực chọn các biện pháp phòng tránh để bảo đảm an toàn sức khỏe cho cả hai.

+ Khám sức khỏe sinh sản: Giúp bạn phát hiện những bất thường về cấu tạo cơ quan sinh dục (nếu có) để chuẩn bị thời gian, tâm lý thực hiện các thủ thuật, phẫu thuật, tránh cho người bạn đời khỏi bị sốc, hoặc những bối rối không cần thiết sau khi cưới. Đồng thời kiểm tra xem một trong hai người có bị viêm nhiễm hay mắc bệnh lây qua đường sinh dục không, để kịp thời chữa trị và phòng tránh cho người kia; xem xét tình trạng kinh nguyệt/xuất tinh, tình trạng sinh đẻ (với người đã từng lập gia đình). Với bạn gái trẻ chưa có gia đình thì thăm khám đường hậu môn nếu cần thiết, để biết tình trạng tử cung; siêu âm, chụp nhũ ảnh, xét nghiệm máu, nước tiểu nếu cần.

Khám sức khỏe sinh sản có thể kiểm tra khả năng sinh sản của bạn việc làm này khá tế nhị song quan trọng không kém vì hiện nay, các cặp vợ chồng đều có xu hướng kết hôn muộn, nên sau khi cưới muốn sinh con ngay; do đó khám sức khỏe sinh sản là cách chuẩn bị tốt nhất cho sự ra đời của đứa con khỏe mạnh hoặc có thể chữa trị kịp thời khi bị vô sinh hay hiếm muội.

 

6. Một số bệnh ảnh hưởng đến hôn nhân và sinh sản

Một số bệnh ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc, sức khỏe của vợ hay chồng hoặc sinh ra con cái sẽ mắc bệnh nan y, là nỗi đau cho gia đình và gánh nặng cho xã hội thì không nên kết hôn.

Chỉ nên kết hôn khi có khả năng giao hợp bình thường. Không mắc bệnh AIDS hoặc bệnh hoa liễu, không bị bệnh tâm thần phân liệt. Không mắc các bệnh ác tính nặng ở một số cơ quan gan, tim, thận… mà y học hiện nay chưa giải quyết được.

Ngoài các bệnh nói trên, những người mang các mầm mống bệnh lý di truyền nan y cũng không nên lấy vợ, lấy chồng. Các bệnh đó là:

- Bệnh Đao (Down): Trong tế bào của người bệnh này có 47 nhiễm sắc thể (NST) chứ không phải 46 như mọi người. Người bệnh bị đần độn từ nhỏ, dễ mắc các bệnh khác, khó tự nuôi sống mình, nếu lấy vợ hoặc chồng thì khoảng 50% số con do họ sinh ra cũng mắc bệnh Đao.

- Bệnh ở nam thừa một NST giới tính (bệnh Klinefelter), (đáng lẽ XY thì họ là XXY). Người bệnh cơ thể trì trệ, các ống sinh tinh bị xơ, không có tinh trùng, vô sinh, vú to…

- Bệnh ở nữ thừa một NST giới tính (đáng lẽ là XX thì ở họ là XXX). Những người mắc bệnh này không có khả năng sinh con vì không hình thành được tế bào trứng do giản phân sai.

- Bệnh ở nữ thiếu một NST giới tính X (đáng lẽ XX thì ở họ là XO). Đó là hội chứng Tơcne (Turner); loạn sản tuyến sinh dục. Những người này tuy vẫn là nữ nhưng chậm phát triển, tầm vóc nhỏ, tính tình như trẻ con, vú teo, lông nách và lông mu rất thưa, không có kinh nguyệt, vô sinh.

Ngoài ra còn có một số bệnh di truyền khác: Bệnh tan máu bẩm sinh gây vàng da, lách to, dị dạng đầu mặt (bệnh Thalassémie); bệnh tan máu hồng cầu hình lưỡi liềm; bệnh ưa chảy máu, bố truyền cho con trai (bệnh Hémophilie) bệnh mù màu, bệnh lệch khớp sọ v.v.. cũng không nên kết hôn

* Một số trường hợp nên hoãn kết hôn:

- Bệnh lây truyền đang điều trị.

- Những bệnh lây qua đường tình dục (HIV, giang mai, lao, phong…) sẽ lây bệnh cho bạn tình nếu kết hôn. Nếu có thai ngay sẽ truyền bệnh, gây bất thường cho thai nhi.

- Các loại thuốc đã dùng không được kiểm soát trước khi kết hôn (ma túy, lao, basedow…) sẽ gây quái thai.

- Những người đang điều trị bệnh tâm thần, thần kinh cũng không nên kết hôn.

Do vậy cần phải khám bệnh trước khi kết hôn - khám lâm sàng, làm các xét nghiệm cận lâm sàng cần thiết và nếu cần thì xác định gen bệnh lý di truyền. Việc này góp phần phòng bệnh cho xã hội chống suy thoái nòi giống,nhằm giảm tới mức tối thiểu khả năng sinh ra những trẻ em không có đầy đủ thể lực và trí tuệ, bảo đảm hạnh phúc hôn nhân cho đôi lứa và nâng cao chất lượng dân số.

7. Khám kiểm tra sức khỏe tiền hôn nhân ở đâu?

- Các bệnh viện chuyên khoa phụ sản.
- Các bệnh viện đa khoa có khoa phụ sản.

- Bệnh viện, Trung tâm Y tế dự phòng (khoa Sản) tỉnh, huyện.
- Trung tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản các tỉnh, thành phố.

 

8. Để có cuộc sống hôn nhân hạnh phúc các bạn thanh niên nam, nữ chuẩn bị kết hôn cần làm gì?

- Đi tư vấn và khám sức khỏe tiền hôn nhân, đừng sợ bạn bè, người thân dị nghị, đừng sợ nếu phát hiện bệnh tật thì cuộc hôn nhân sẽ tan vỡ…

- Khám sức khỏe tiền hôn nhân cũng là một động thái quan trọng để một lần nữa khẳng định tình yêu giữa hai người. Nếu yêu nhau thực sự chắc chắn sẽ quan tâm, lo lắng cho nhau, cùng khắc phục bệnh tật. Trường hợp hai người không thể kết hôn vì lý do nào đó, bác sĩ tư vấn là không nên kết hôn thì hai người cần bàn bạc để cân nhắc yếu tố nào là quan trọng:

+ Một là kết hôn và chấp nhận rủi ro;

+ Hai là “giải phóng” để người kia đi tìm hạnh phúc mới. Mỗi người cần tôn trọng quyết định của nhau, thà rằng đau khổ trước, sau đó cảm thấy nhẹ nhàng, thanh thản, còn hơn cưới xong mới phát hiện ra thì lúc đó hai người dằn vặt nhau còn đau khổ hơn.

Các bạn thanh niên nam, nữ chuẩn bị kết hôn, hãy tự tin vào chính bản thân mình, phải chuẩn bị cho mình một tinh thần và sức khỏe tốt để bước vào cuộc sống lứa đôi an toàn, hạnh phúc bền lâu.

9. Khi nào khám sức khỏe tiền hôn nhân?

Theo bác sĩ, các cặp đôi nên có kế hoạch khám trước khi cưới khoảng 3 - 6 tháng trước khi cưới vì đây chính là thời gian trung bình để điều trị một số bệnh nếu được phát hiện. Đặc biệt đối với những người dự định sinh con ngay, để đảm bảo sức khỏe cho con sau này. Việc tiến hành khám sức khỏe tiền hôn nhân của các cặp vợ chồng trẻ cũng được xem là hình thức sàng lọc bước một trong việc nâng cao chất lượng dân số.

Kết luận: Hôn nhân là kết quả cuối cùng của cuộc tìm hiểu, là sự kiện trọng đại cả đời, là bước khởi đầu cho cuộc sống mới của mỗi cặp đôi. Vì vậy, để chuẩn bị cho cuộc hôn nhân hạnh phúc viên mãn cả hai người cần phải tiến hành Khám sức khỏe tiền hôn nhân là cần thiết. Bởi khám sức khỏe tiền hôn nhân không chỉ giúp các cặp đôi chuẩn bị sẵn sàng tâm lý trước khi bước vào một vai trò mới, mà còn là biện pháp hữu ích để tầm soát các căn bệnh nguy hiểm, từ đó tránh những hệ lụy không đáng có trong cuộc sống vợ chồng và tương lai của con cái sau này./.

 

 

BÀI TUYÊN TRUYỀN TƯ VẤN VÀ CUNG CẤP DỊCH VỤ

DÂN SỐ/KHHGĐ CHO VỊ THÀNH NIÊN

 

 

I. NỘI DUNG TƯ VẤN VỀ DÂN SỐ/KHHGĐ CHO VỊ THÀNH NIÊN

1. Đặc điểm phát triển cơ thể, tâm sinh lý tuổi vị thành niên

- Dậy thì ở các em nam, nữ: Đối với các em nữ, phát triển núm vú, quầng vú, mọc lông mu, lông nách, tử cung, âm đạo, buồng trứng phát triển to ra, xương hông nở ra, phát triển chiều cao nhanh chóng, xuất hiện kinh nguyệt, các tuyến bã hoạt động mạnh, xuất hiện trứng cá. Đối với các em nam, tinh hoàn và dương vật to lên, da tinh hoàn sẫm màu lại, thanh quản mở rộng, vỡ tiếng, yết hầu lộ ra, tăng trưởng nhanh chóng về chiều cao, các xương dài phát triển, cơ bắp ở vai, ngực, cánh tay to ra, xuất hiện lông mu, ria mép, có xuất tinh…

- Biến đổi về tâm lý trong thời kỳ vị thành niên: tò mò, thích khám phá, thích thử nghiệm, quan tâm đến hình thức bên ngoài, phát triển mạnh cá tính, sở thích cá nhân, chịu ảnh hưởng nhiều của bạn bè đồng trang lứa, khẳng định sự độc lập và ý thức mình không còn trẻ con…

2. Tình bạn khác giới, tình yêu.

- Tình bạn khác giới: là tình bạn giữa bạn nam và bạn nữ nhưng có những đặc điểm riêng đó là trong tình bạn khác giới mỗi bên đều coi giới kia là một điều kiện để tự hoàn thiện mình; có một khoảng cách tế nhị hơn so với tình bạn cùng giới, không dễ dàng biểu lộ thân mật, gần gũi, tận tình như những người bạn cùng giới. Trong một số trường hợp tình bạn khác giới có thể là khởi điểm cho quá trình chuyển hóa thành tình yêu sau này, mặc dù nó chưa phải là tình yêu. Do đó dễ bị ngộ nhận là tình yêu.

Trong quan hệ tình bạn khác giới cần lưu ý tránh đối xử với nhau suồng sã, thiếu tế nhị; Tránh vô tình hay chủ ý ghán ghép với nhau trong quan hệ bạn bè; Tránh ghen ghét, nói xấu lẫn nhau hay đối xử thô bạo, nói cạnh, nói bóng khi thấy bạn mình có thêm người bạn khác giới; Tránh ngộ nhận tình bạn khác giới là tình yêu cho dù rất thân; Tránh có thái độ mập mờ gây cho người bạn khác giới sự hiểu lầm là tình yêu.

- Tình yêu: là một loại tình cảm đặc biệt, hấp dẫn, tôn trọng, chăm sóc và hiểu biết nhau sâu sắc. Tình yêu thúc đẩy hai người đi đến hòa nhập với nhau về tâm hồn, thể xác và cả cuộc đời. TÌnh yêu là một dạng tình cảm thiêng liêng, đẹp đẽ nhất của con người. Tình yêu lành mạnh là sự kết tinh của tình người, nó làm cho con người trở nên thanh cao, giàu lòng nhân ái, giàu sức sáng tạo.

Tình yêu lành mạnh có những đặc điểm sau: thứ nhất, tôn trọng người mình yêu. Thể hiện việc nhìn nhận người yêu có cá tính riêng, không nên bắt người yêu phải theo ý mình. Tôn trọng là thông cảm với các mối quan hệ xã hội của người yêu. Đừng bao giờ tỏ ý cấm đoán hoặc ghen tuông. Thứ hai, tôn trọng bản thân. Mỗi người có một đặc tính riêng với cách suy nghĩ, cách nhìn nhận, cách phản ứng riêng biệt trong từng hoàn cảnh, bạn hãy luôn sống là mình như vậy sẽ thật sự chân thành với người mình yêu. Biết quý trọng bản thân là điều cần thiết trong tình yêu. Thứ ba, chia sẻ. Khi hai người xây dựng tình yêu, tổ ấm hạnh phúc họ thường cùng nhau chia sẻ mọi nỗi vui buồn. Điều đó không chỉ là niềm hạnh phúc hiện tại mà còn là tình cảm gắn bó lâu dài. Thứ tư, luôn đem lại hạnh phúc cho nhau. Tình yêu là chỗ dựa, là nguồn sống của con người, các bạn đừng bao giờ nghĩ rằng yêu được là xong rồi. Tình yêu, hạnh phúc cũng giống như một cây hoa, muốn cho cây sống tươi tốt, ra hoa đẹp thì phải không ngừng chăm sóc vun đắp hàng ngày.

3. Kinh nguyệt bình thường và bất thường tuổi vị thành niên

Kinh nguyệt là một hiện tượng sinh lý bình thường, biểu hiện là chảy máu ra ngoài âm đạo do bong niêm mạc tử cung. Kinh nguyệt có tính chất định kỳ hàng tháng, là kết quả của sự thay đổi nội tiết buồng trứng trong cơ thể. Ở tuổi vị thành niên kinh nguyệt có thể chưa đều trong khoảng 1-2 năm đầu do hoạt hoạt động của buồng trứng chưa ổn định.

Kinh nguyệt bình thường khi:

+ Tuổi bắt đầu có kinh: từ 11 đến 18 tuổi

+ Vòng kinh từ 22 đến 35 ngày, trung bình là 28-30 ngày

+ Thời gian hành kinh từ 3-7 ngày

+ Lượng máu kinh thay 3 -5 lần băng vệ sinh mỗi ngày

+ Máu kinh đỏ tươi, không đông, có mùi hơi nồng, không tanh

Kinh nguyệt không bình thường còn gọi là rối loạn kinh nguyệt

+ Quá 18 tuổi chưa hành kinh

+ Quá 3 tháng chưa hành kinh nếu trước đó kinh rất đều và quá 6 tháng chưa hành kinh nếu trước đó kinh không đều

+ Máu kinh vẫn có nhưng màng trinh kín hoặc cổ tử dung bị dính nên máu kinh không chảy ra ngoài còn gọi là bế kinh.

+ Hành kinh kéo dài trên 7 ngày gọi là rong kinh

+ Vòng kinh dài trên 35 ngày gọi là kinh thưa, vòng kinh ngắn dươcí 21 ngày gọi là kinh mau.

+ Băng kinh là trường hợp máu kinh ra rất nhiều gây choáng váng, mệt mỏi, đôi khi bị ngất xỉu.

+ Thống kinh là những trường hợp đau bụng nhiều khi hành kinh, có thể bị mệt mỏi và ảnh hưởng sinh hoạt

+ Có kinh trước 10 tuổi gọi là kinh sớm

4. Thai nghén và sinh đẻ ở tuổi vị thành niên

- Nguy cơ khi tiếp tục giữ thai và sinh đẻ: Mang thai ở tuổi vị thành niên ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, nguy cơ tử vong mẹ vẫn còn cao so với các bà mẹ sinh con ở tuổi trưởng thành. Mẹ dễ bị thiếu máu, tiền sản giật, đẻ non, sẩy thai, chuyển dạ đình chệ, bất tương xứng thai, khung chậu. Trong lúc sinh có thể đẻ khó, dễ phải can thiệp bằng các thủ thuật và phẫu thuật. Tỷ lệ tử vong tre em sinh ra do các bà mẹ vị thành niên trogn năm đầu cao hơn so với các bà mẹ sinh con ở tuổi trưởng thành. Con của các bà mẹ vị thành niên thường có tỷ lệ nhẹ cân, bệnh tật và tử vong cao gấp nhiều lần so với con của các bà mẹ ở tuổi trưởng thành. Về mặt kinh tế xã hội, khi có thai vị thành niên phải gián đoạn việc học hành, khó khăn về kinh tế và không kiếm được việc làm, dẫn vị thành niên vào con đường bế tắc. Hạnh phúc gia đình có thể bị rạn nứt, dễ lâm vào cảnh éo le, ảnh hưởng đến tương lai của vị thành niên. Tỷ lệ ly hôn cao, dễ bị phân biệt đối xử, làm mẹ sớm dễ bị căng thẳng, khủng hoảng tâm lý.

- Nguy cơ khi phá thai ở tuổi vị thành niên: Do mặc cảm, xấu hổ nên vị thành niên thường tìm kiếm dịch vụ phá thai khôgn an toàn. Vị thành niên thường không biết các dấu hiệu để nhận biết thia nghén, nên không tìm đến cơ sở y tế sớm dẫn đến phá thai to. Do cơ thể chưa phát triển hoàn chỉnh, tâm lý lại lo sợ nên thủ thuật phá thai ở vị thành niên thường xảy ra nhiều tai biến hơn ở người trưởng thành. Những ảnh hưởng tâm lý sau phá thai ở tuổi vị thành niên có thể rất nặng nề và kéo dài.

5. Các biện pháp tránh thai ở tuổi vị thành niên

- Kiêng giao hợp (tình dục không xâm nhập): là thực hiện các hành vi tình dục mà không có sự tiếp xúc giữa dương vật và âm đạo. Nếu có sự va chạm bên ngoài giữ dương vật và âm hộ thường sẽ không có thai, nhưng vẫn có nguy cơ mắc một số bệnh nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV.

- Bao cao su: là biện pháp thích hợp với vị thành niên vì vừa tránh thai an toàn, hiệu quả, vừa phòng nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục.

- Viên uống tránh thai kết hợp: là biện pháp tránh thai phù hợp với vị thành niên có quan hệ tình dục, nhưng đây là biện pháp không có tác dụng phòng nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục.

- Thuốc tránh thai khẩn cấp: là thuốc sử dụng sau lần quan hệ tình dục không được bảo vệ trong vòng 5 ngày, tốt nhất là trong vòng 72 giờ (3 ngày), càng uống sớm hiệu quả càng cao. Đây là biện pháp duy nhất có thể sử dụng sau khi đã có quan hệ tình dục.

Ngoài ra còn có các biện pháp tránh thai khác như: viên uống tránh thai chỉ có progestin, đặt vòng tránh thai, thuốc tiêm và thuốc cấy tránh thai, tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo.

6. Mộng tinh, thủ dâm

- Xuất tinh là do cơ chế phản xạ khiến cho có sự co thắt các cơ vùng chậu và niệu đạo. Lượng tinh dịch cho mỗi lần xuất tinh thông thường khoảng 3-4ml

- Mộng tinh là hiện tượng xuất tinh trong lúc ngủ. Có thể nằm mơ thấy cảnh quan hệ tình dục giữa nam và nữ hoặc mơ thấy đang âu yếm một cô gái … và bị kích thích cao độ dẫn tới xuất tinh. Cũng có trường hợp không phải do nằm mơ mà chỉ đơn thuần là hiện tượng cương cứng dương vật trong khi ngủ, kết hợp với việc giải phóng tinh dịch chứa trong đường ống dẫn tinh. Mộng tinh là hiện tượng hết sức bình thường biểu hiện sự trưởng thành về chức năng sinh sản và tình dục.

- Thủ dâm: là một trong những hành vi tình dục có thể xảy ra ở nhiều lứa tuổi, đặc biệt thường gặp ở tuổi vị thành niên. Thủ dâm là việc một người tự kích thích mình để đạt được khoái cảm, thường là dùng tay hoặc dụng cụ để kích thích bộ phận sinh dục. Thủ dâm có thể gặp ở cả nam và nữ. Thủ dâm ở nam giới có thể đạt tới cực khoái và gây phản xạ xuất tinh. Thủ dâm là một cách tự giải tỏa nhu cầu tình dục của bản thân và là một trong những cách thực hành tình dục an toàn. Thủ dâm không phải là một bệnh và klhông có hại. Tuy nhiên không nên quá lạm dụng thủ dâm, đồng thời cũng cần biết cách giữ vệ sinh và tránh các nguy cơ bị tổn thương, xây xước bộ phận sinh dục khi thủ dâm bằng dụng cụ, không sử dụng chung dụng cụ để thủ dâm cho nhiều người.

7. Nhiễm khuẩn đường sinh sản và nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục bao gồm cả HIV/AIDS

- Nhiễm khuẩn đường sinh sản gồm 3 loại:

+ Nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục: gồm các bệnh như bệnh lậu, trùng roi sinh dục, bệnh giang mai, bệnh hạ cam, héc péc sinh dục, sùi mào gà sinh dục, nhiễm HIV ….

+ Nhiễm khuẩn nội sinh do tăng quá mức các vi sinh vật có trogn ssm đạo của phụ nữ như viêm âm đạo do vi khuẩn, viêm âm hộ, âm đạo do nấm men.

+ Nhiễm khuẩn y sinh: là các nhiễm khuẩn do thủ thuật y tế không vô khuẩn

Các nhiễm khuẩn trên có thể dự phòng hoặc có thể chữa khỏi được.

- Nhiễm khuẩn đường sinh sản, nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục là một trong các căn nguyên quan trọng nhất gây bệnh tật và tử vong cho bà mẹ và trẻ em. Các nhiễm khuẩn này có thể đưa đến vô sinh, chửa ngoài tử cung, ung thư cổ tử cung, sẩy thai, trẻ đẻ thiếu cân, mù lòa …

- Các nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục có cả ở nam và nữ. Khi mắc nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục cần phải điều trị cho cả bạn tình của họ để đề phòng tái nhiễm cho người bệnh.

8. Tình dục an toàn và lành mạnh

- Tình dục an toàn là những hành vi tình dục bao gồm cả hai yếu tố: không có nguy cơ nhiễm khuẩn lây truyền qua đường tình dục và mang thai ngoài ý muốn.

- Tình dục lành mạnh: hành vi tình dục được coi là lành mạnh khi phù hợp với những đặc thù của tình dục người, với chuẩn mực đạo đức, văn hóa của xã hội hiện đại. Tình dục lành mạnh phải đảm bảo 4 yếu tố: tự nguyện, đồng thuận, có trách nhiệm và tôn trọng lẫn nhau.

- Những biểu hiện ham muốn thể xác xuất hiện ở tuổi vị thành niên là bình thường; nhưng các em cần hiểu rằng, con người không phải là nô lệ của bản năng tính dục để có hành vi tình dục an toàn và tình dục lành mạnh.

9. Lạm dụng tình dục và bạo hành ở tuổi vị thành niên/thanh niên.

- Các hình thái bạo hành đối với vị thành niên/thanh niên: Bạo hành về thể chất bao gồm các hình thức hành hạ thân thể như: đánh, tát, bạt tai, bắt nhịn ăn, bắt nhốt …Bạo hành về tinh thần: bao gồm các hình thức hành hạ, uy hiếp về mặt tinh thần như chửi mắng, lăng mạ, làm mất thể diện trước mặt người khác, xao lãng bỏ mặc, bỏ rơi, không công nhận ….Bạo hành tình dục: gồm các hành vi quấy rối, lạm dụng cưỡng ép thực hiện bất kỳ hành vi tình dục nào làm tổn hại đến thể chất, tinh thần như hiếp dâm, quấy rối, sờ mó, sử dụng lời nói tục tĩu, bắt buộc chụp hình khỏa thân, buôn bán tình dục …

- Xâm hại và lạm dụng tình dục là dạng bạo hành đau lòng nhất, gây tranh cãi nhiều nhất, bị che đậy nhiều nhất, và bị hiểu lầm là ít xảy ra trong các dạng bạo hành. Vậy xâm hại/lạm dụng tình dục là gì? Xâm hại và lạm dụng tình dục có thể là về mặt thể xác, hoặc về mặt tinh thần. Các hành vi lạm dụng tình dục bao gồm:

Về mặt thể xác: Xâm phạm thân thể bằng một bộ phận cơ thể hoặc một vật nào đó; Mơn trớn hoặc đụng chạm một cách không phù hợp; Bắt ép (hay “yêu cầu”) đụng chạm bộ phận sinh dục của người lớn hoặc theo một cách gợi dục.

Về mặt tâm lý: Cho tiếp xúc với văn hóa phẩm đồi trụy; Phô trương, phô bày một cách không đúng đắn, phản cảm trước mặt; Cố tình thủ dâm trước mặt; Cố tình quan hệ tình dục trước mặt; Dùng vị thành niên để sản xuất các sản phẩm khiêu dâm (phim, ảnh, quảng cáo,…v..v).

- Nhận diện kẻ lạm dụng tình dục:

+ Kẻ lợi dụng thường là người lớn hoặc 1 người lớn tuổi hơn, có thể là người lạ, người quen, thậm chí có khi là người ta yêu quí. Khả năng các em quen biết kẻ xâm hại là 93% và có 47% kẻ xâm hại ở trong gia đình hoặc họ hàng.

+ Thường là người hay say xỉn, uống rượu bia

+ Thường là người nghiện hút ma túy và các chất kích thích

+ Thường là người không có công ăn việc làm, chán đời

+ Thanh niên hay xem phim sex; bị bệnh lý; không được thỏa mãn nhu cầu tình dục

- Phòng tránh bị lạm dụng tình dục:

+ Không ăn mặc hở hang, không nghe lời ngon ngọt dụ dỗ của người lạ, kẻ xấu

+ Tuyệt đối tránh xa những người bắt các em cho xem cơ thể. Hãy nói: “Cháu không thích”, và hãy chạy đi nếu nhận thấy, cảm giác nguy hiểm báo cho người lớn, cha mẹ hoặc người có thẩm quyền để giúp đỡ các em.

+ Hãy lên tiếng khi có người bắt các em cho xem cơ thể. Nếu các em bị dọa đánh, giết hay trả thù, không run sợ, hãy bình tĩnh phân tích cho kẻ xấu hiểu - Nếu cô chú xâm hại với cháu, cháu sẽ nói cho người lớn biết, cô chú sẽ phạm tội giao cấu trẻ em, khung hình phạt từ 12 – 20 năm - Nếu cô chú giết cháu hoặc làm cháu tự sát, khung hình phạt từ chung thân đến tử hình - Nếu đánh đập cháu, cô chú sẽ chịu án 1 – 3 năm.

II. CUNG CẤP DỊCH VỤ DÂN SỐ/KHHGĐ CHO VỊ THÀNH NIÊN

1. Các loại dịch vụ chăm sóc SKSS/SKTD thân thiện với VTN/TN

- Thông tin và tư vấn về SKSS và giới tính, về kỹ năng ssống, tình dục, tình dục an toàn, tư vấn về bạo hành và xâm hại tình dục.

- Các dịch vụ lâm sàng: khám chăm sóc đường sinh sản; chăm sóc trước, trong và sau sinh; phá thai an toàn và chăm sóc sau phá thai; quản lý và điều trị các trường hợp NKĐSS; quản lý và ngăn ngừa HIV lây truyền từ mẹ sang con; cung cấp các biện pháp tránh thai; thăm khám và điều trị các vấn đề liên quan đến bạo hành và xâm hại tình dục

- Các dịch vụ cận lâm sàng: xét nghiệm thai, xét nghiệm các bệnh LTQĐTD, HIV, các xét nghiệm và siêu âm, thăm dò các chức năng cần thiết trong lĩnh vực SKSS/SKTD tùy theo từng cơ sở

- Các dịch vụ chuyển tuyến và hỗ trợ chuyển tuyến: bao gồm các cơ sở truyền thông, tư vấn và cung cấp dịch vụ có liên quan.

2. Các cơ sở cung cấp dịch vụ dân số/KHHGĐ cho vị thành niên

* Các cơ sở có thể triển khai cung cấp thông tin giáo dục truyền thông, tư vấn về SKSS/SKTD cho vị thành niên/thanh niên: trung tâm truyền thông giáo dục sức khỏe, trung tâm tư vấn chuyên biệt về SKSS/SKTD, trung tâm tư vấn chung về hôn nhân gia đình, góc tư vấn, góc thân thiện cho VTN/TN, phòng tư vấn của cơ sở y tế, phòng tư vấn cơ quan, xí nghiệp …

* Các cơ sở có thể triển khai cung cấp thông tin giáo dục truyền thông, tư vấn và dịch vụ khám chữa bệnh về SKSS/SKTD cho vị thành niên/thanh niên: khoa sản các bệnh viện đa khoa; các bệnh viện chuyên khoa phụ sản, chuyên khoa nhi, chuyên khoa da liễu, các bệnh viện có chuyên khoa nam học, Trung tâm chăm sóc SKSS, trung tâm y tế dự phòng, trạm y tế, các cơ sở y tế tư nhân có chuyên khoa phụ sản …

  1. lại, đối với lứa tuổi vị thành niên bên cạnh việc học tập các em cần chủ động trang bị kiến thức về sức khỏe sinh sản, các kỹ năng sống cần thiết để kịp thời thích ứng với thay đổi về tâm sinh lý ở lứa tuổi vị thành niên. Đồng thời tránh có quan hệ tình dục sớm và kết hôn sớm, trong trường hợp mang thai các em cần trao đổi với mẹ hoặc cô giáo để được tư vấn kịp thời, tránh những hậu quả đáng tiếc.

 

 

 

Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 1
Hôm qua : 1
Tháng 12 : 10
Năm 2021 : 824